Hiển thị các bài đăng có nhãn lactose. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lactose. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Trong khung ruột bao giờ cũng phải có hơi từ phản ứng lên men phế phẩm dưới bàn tay thúc đẩy của vi khuẩn, nấm mốc sống thường trực trong lòng ruột. Nhờ hơi mà ruột có độ căng thích hợp để phân được thải ra ngoài “đúng cách” khiến bạn thở phào nhẹ nhõm.


Nhưng chuyện gì cũng phải có giới hạn. Thiếu hơi đương nhiên không xong vì táo bón không mời mà đến, nhưng nếu quá thừa hơi cũng tai hại không kém vì bạn vừa phải khó chịu với cảm giác khó tiêu, chướng bụng… vừa bị trì trệ tiến trình tiêu hóa rồi dẫn đến rối loạn biến dưỡng.



Thông thường, đầy hơi ít khi xảy ra nếu cơ thể không có bệnh trên đường tiêu hóa, nếu bạn có chế độ dinh dưỡng cân đối (không thiếu nước, không thiếu chất xơ), cũng như không dùng thuốc kháng sinh vì thuốc kháng sinh sẽ khiến vi sinh “phe ta” bị diệt hàng loạt. Hơn nữa, phần lớn hơi trong khung ruột, nếu không bị ứ đọng trong đó quá lâu, sẽ được hấp thu vào máu rồi sau đó được thải ra ngoài qua đường hô hấp. Nói thế có nghĩa là cơ thể chắc chắn không vui gì nếu hơi được đưa vào máu là hơi độc tích lũy trong khung ruột!


Đáng nói là ngay cả ở người khỏe mạnh, đầy hơi vẫn có thể xuất hiện nếu bị dị ứng với thực phẩm nào đó mà không biết, thường gặp nhất với chất đường Lactose trong sữa và sản phẩm từ sữa khiến họ uống sữa bị đau bụng.


Lactose là đường chính có trong sữa và hầu hết các sản phẩm khác của sữa. Trong ruột non của bạn tạo ra enzyme lactase để giúp bạn tiêu hóa đường đó. Khi bạn không dung nạp lactose có nghĩa là trong ruột bạn không đủ lactase để tiêu hóa lactose. Mặc dù việc cơ thể không dung nạp lactose không thể chữa được nhưng nếu bạn thay đổi chế độ ăn uống, bạn có thể làm giảm hoặc loại bỏ được các triệu chứng khó chịu đó.


Cũng không hiếm trường hợp do bạn quá mạnh miệng với rau cải khiến lượng chất xơ lọt vào khung ruột trở thành món khó tiêu. Tình trạng này càng rõ nét hơn nữa với bụng căng trướng chẳng khác gì mang thai, với hơi xả ra mùi xú uế, nếu bạn thường xuyên ăn các món dễ sinh hơi như củ hành, cải chua, bắp cải, trứng gia cầm, đậu…


May mắn cho chúng ta là giải pháp trong đa số trường hợp đầy hơi lại không quá phức tạp. Người theo “tây” có thể dùng thuốc chứa Simethicone (Air-X, Mylicon…) từ 1 đến 2 viên sau bữa ăn. Chất Simethicone này có cái hay là không ngấm vào máu nên không gây tác dụng phụ, an toàn khi sử dụng.


Còn nếu theo “đông” thì có thể thực hiện các phương pháp dưới đây:


– Chườm nóng vùng bẹ sườn bên phải và vùng quanh rốn.


– Xoa đều vùng bụng theo chiều kim đồng hồ từ bẹ sườn bên phải sang trái, xuống dưới, sang phải rồi trở về điểm xuất phát cho đến khi ợ hơi.


– Uống từng ngụm nước nóng có ít lát gừng tươi hay vài giọt dầu bạc hà, quế, sa nhân.


– Cũng có thể nhấp ngụm rượu vang trắng có ngâm ít cọng thì là sau mỗi bữa ăn.


Không nên xem thường đầy hơi vì nó không chỉ khó chịu cho mình mà còn cho cả người lân cận. Đáng nói hơn nữa là các loại hơi “độc” trong ruột cũng là nguyên nhân dẫn đến dị ứng, đau đầu, mất ngủ, mụn nhọt…, thậm chí ung thư, hôn mê gan.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Bạn có thể thấy lúng túng khi chia sẻ việc này với người khác. Tuy nhiên, đây là những rối loạn hay gặp và bạn nên thẳng thắn trao đổi với bác sĩ. Điều quan trọng là bạn phải nói với bác sĩ về tất cả các triệu chứng tiêu hóa bạn gặp phải và tần suất xảy ra.


Bạn có thể bị một rối loạn tiêu hóa mạn tính như viêm đại tràng thể loét, bệnh Crohn hoặc bệnh tiêu chảy mỡ. Hoặc bạn có thể bị rối loạn chức năng đường ruột; hai dạng hay gặp nhất là hội chứng ruột kích thích kèm táo bón (IBS-C) và táo bón vô căn mạn tính (CIC).


IBS-C và CIC là gì?


IBS-C là một trong bốn phân nhóm chính của hội chứng ruột kích thích, một rối loạn chức năng tiêu hóa mạn tính do bất thường chức năng đường ruột, chứ không phải do các bất thường về cấu trúc hoặc sinh hóa.


Các triệu chứng IBS-C bao gồm đau bụng hoặc khó chịu, phân cứng, giảm nhu động ruột. Còn chưa rõ nguyên nhân gây IBS-C song bệnh có thể liên quan đến một số yếu tố như tính quá mẫn của các dây thần kinh ruột, rối loạn chức năng trao đổi trục não-ruột. CIC cũng gây ra các triệu chứng tương tự như phân cứng và giảm nhu động ruột, nhưng thường không liên quan với đau.


Điều trị IBS-C và CIC như thế nào?


Trước hết bạn cần trao đổi với bác sĩ để có chẩn đoán và tìm cách điều trị phù hợp. Hãy nói cho bác sĩ biết chi tiết về các triệu chứng bạn gặp phải, tần suất của các triệu chứng và cả những biện pháp bạn đã từng áp dụng để giảm nhẹ triệu chứng.


Mặc dù chưa có cách chữa IBS-C hoặc CIC nhưng có một số cách giúp kiểm soát các triệu chứng:


Thay đổi chế độ ăn: Tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn có thể giúp làm mềm phân và chống táo bón. Các thực phẩm giàu chất xơ bao gồm hoa  quả, rau xanh, đậu…Bạn nên tăng lượng chất xơ một cách từ từ để tránh nguy cơ đầy hơi hoặc chướng bụng. Tránh các thực phẩm nhiều chất béo, rượu và đồ uống có chứa caffein như cà phê hoặc soda vì chúng sẽ làm trầm trọng thêm các triệu chứng.


Ngoài ra, nhiều người bị hội chứng ruột kích thích có thể không dung nạp với một số loại đường như fructose hoặc lactose. Hạn chế các thực phẩm chứa những loại đường này có thể giúp ích.


Các sản phẩm như sữa và phô mai là thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng. Nhiều trẻ em khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose. Cho dù cơ thể bạn có sẵn lactase thì sự nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến loại enzyme này. Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây chứng uống sữa bị đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy.



Uống nhiều nước: Uống 6-8 cốc nước mỗi ngày đóng vai trò quan trọng để bổ sung nước cho cơ thể và hỗ trợ đi tiêu dễ dàng hơn.


Tăng cường tập luyện, giảm stress: Stress và lo âu có thể gây ra các triệu chứng về đường tiêu hóa. Tăng cường tập luyện như đi bộ hoặc tập yoga và học các kỹ thuật thư giãn sẽ giúp bạn đối phó với các tình huống căng thăng. Tuy nhiên, hãy thảo luận với bác sĩ trước khi bắt đầu một chương trình tập luyện.


Trong một số trường hợp, thay đổi chế độ ăn và lối sống có thể là chưa đủ. Bác sĩ sẽ khuyến nghị các lựa chọn điều trị phù hợp với bệnh nhân dựa trên tình trạng và độ nặng của các triệu chứng IBS-C và CIC họ mắc phải. Điều quan trọng là bệnh nhân phải thông báo cho bác sĩ về  các cách điều trị có tác dụng hoặc không có tác dụng mà trước đây họ đã từng áp dụng.


Các thuốc bán tự do (OTC): Điều trị bằng các thuốc bán tự do như thuốc nhuận nhàng và thuốc làm mềm phân đều sẵn có và được cho phép sử dụng trong điều trị chứng táo bón không thường xuyên. Tuy nhiên, không nên sử dụng những sản phẩm này dài ngày mà không có sự theo dõi của bác sĩ và không dược FDA phê chuẩn cho điều trị IBS-C hoặc CIC.


Các thuốc kê đơn: Có các thuốc kê đơn được FDA phê chuẩn để điều trị IBS-C và CIC.


Bạn nên thảo luận chi tiết với bác sĩ về các triệu chứng để tìm ra cách điều trị phù hợp.

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Như quả bom nổ! trong khoảng giữa các thập niên 1980 – 2008, số người mắc bệnh béo phì tăng gấp đôi trên toàn thế giới, có thể đạt đến 500 triệu người theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Tức là 1 trên 15 người! Và gần 1 trên 19 (tức khoảng 371 triệu) người mắc bệnh đái tháo đường.



Trước đây, hai bệnh này chỉ dành riêng cho những nước giàu nhưng bây giờ thì toàn thế giới. Cái gì đã gây ra cơn đại dịch này? Các chuyên gia đã khẳng định đó là đường. Hơn cả mỡ, đường là nguồn gốc của bệnh đái tháo đường, béo phì và từ đó phát sinh ra một số bệnh ung thư như ung thư vú, ung thư đại tràng.


Gluxit rất cần thiết cho cơ thể của chúng ta. 1g gluxit đem lại cho cơ thể 4 Kcal, tương đương với protein và ít hơn 2 lần so với mỡ (lipid). Đường là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể. Vì vậy, lượng đường trong máu, được gọi là đường huyết, được giữ ở mức cố định (từ 0,6 đến 1g/lít).


Gluxit được chia làm hai nhóm. Gluxit đơn giản, được gọi là đường, bao gồm: glucose, maltose và fructose (được gọi là đường đơn); saccarose và lactose, được gọi là đường kép (gồm 2 phân tử đường đơn). Các loại đường này hiện diện tự nhiên trong các loại cây trái, một vài loại quả đậu như cà-rốt, củ cải đường hay trong mật ong, sữa. Tất cả chúng đều có vị ngọt. Trong khi gluxit phức hợp thì không có tính chất đó, thường được gọi là “đường chậm”. Chúng được cung cấp bởi họ đậu (như đậu khô, đậu Hà Lan, đậu lăng…), khoai tây và ngũ cốc. Đường phức hợp thường được tiêu hóa chậm hơn nhiều so với đường đơn giản.


Lactose là nguồn cung cấp đường glucose cho sự hoạt động của não và cơ thể, làm phân mềm, tạo sự vượt trội của những vi khuẩn có lợi giúp cho sự phát triển hệ miễn dịch và tiêu hoá trong cơ thể trẻ. Men lactase ở màng ruột là men tiêu hoá biến đường lactose trở thành đường glucose.


Tại Pháp, một nửa gluxit đơn giản được ngốn vào cơ thể là do thức ăn tự nhiên. Một nửa còn lại tương ứng với đường phụ gia. Các đường phụ gia này bao gồm một phần là đường thẻ cho thêm vào sữa chua (yaourt) hay cà phê. Phần còn lại, đường được thêm vào trong các thực phẩm công nghiệp. Chắc chắn là để cho ngon hơn nhưng cũng để cho hấp dẫn hơn nhờ màu sắc và hương vị hoặc để làm cho quá trình lên men nhanh hơn (bánh mì). Hơn 80% lượng đường được bán ở Pháp là được trộn lẫn trong thức ăn công nghiệp.


Vì vậy, mãi lực của một số sản phẩm chế biến công nghiệp có đường đã bùng nổ: thí dụ như mứt để phết lên bánh mì… đã tăng gấp đôi vào năm 2007 so với 1995. Người Pháp còn nốc ngày càng nhiều các loại nước soda, gần 56 lít mỗi người một năm.


Ðường – “Sát thủ” tiềm năng


Gan nhiễm mỡ quan sát bên ngoài và dưới kính hiển vi


Như vậy, để bảo vệ sức khỏe cần giới hạn gluxit đơn giản ở mức nào? Cơ quan Quốc gia An toàn thực phẩm (Anses) của Pháp cũng không quy định chính xác mức nào, chỉ khuyến cáo giảm lượng đường ăn vào khoảng 25%. Thật khó đánh giá! Trong khi càng ngày đường càng tấn công khắp các “mặt trận”, ngay cả những thức ăn ướp muối kinh điển như súp, nước xốt, thịt ướp, thức ăn chế biến sẵn…


Một công trình nghiên cứu của Cơ quan nghiên cứu khoa học Inserm, Pháp, công bố vào tháng 2/2013, cho biết những phụ nữ uống nước ngọt trung bình khoảng 1-1,7 lít mỗi tuần, có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường cao hơn 30% so với người không uống. Không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì các thức uống này chứa một lượng tương đương với 20 viên đường mỗi lít. Từ lượng đường được “du nhập” vào cơ thể theo cách “thụ động” này khiến não bộ không thể ghi nhớ được là đang hấp thu một loại thực phẩm. Như vậy, 1 lít coca cung cấp 420Kcal! Do đó, tiêu thụ các loại nước ngọt giải khát sẽ làm tăng nguy cơ béo phì và đó cũng là nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.


Một tham số khác không thể thiếu được trong “cuộc chơi” này, đó là chỉ số đường huyết. Chỉ số đường huyết được các nhà dinh dưỡng học ứng dụng từ lâu, được dùng để định lượng nồng độ đường trong máu. Chỉ số đường huyết bình thường nằm trong khoảng từ 0,6 – 1g/l (hay 4-6 mmol/l).


Nước giải khát nhẹ có phải là không có hại không?


Hình như là không. Công trình nghiên cứu cho thấy nguy cơ đái tháo đường tăng gấp đôi ở những người tiêu thụ hơn 1,5 lít trong tuần. TS. Guy Fagherazzi cho biết có nhiều giả thuyết giải thích vấn đề này. Trước tiên, thức uống này có thể kích thích sự thèm đường. Hơn nữa, chất aspartam, một trong những chất thay đường chủ yếu hiện nay, có thể gây tăng đường huyết và hậu quả là làm tăng nồng độ insulin tương tự như là đối với đường thực sự.


Ðường – “Sát thủ” tiềm năng


Chưa có kết luận chính thức về mối quan hệ giữa tiêu thụ nước trái cây và bệnh đái tháo đường


Ngược lại, chưa thấy có mối tương quan nào giữa sự tiêu thụ nước ép trái cây tươi và bệnh đái tháo đường. Thật vậy, fructose, hiện diện trong trái cây, thường kết hợp với các chất dinh dưỡng khác, thí dụ như chất xơ, làm chậm sự hấp thu và làm giảm các hiệu ứng gây tác hại trên biến dưỡng.


Tuy nhiên, đó không phải là trường hợp mà người ta thêm vào các thực phẩm công nghiệp các chất phụ gia như si-rô bắp chẳng hạn. GS. Bart Stael, GĐ Phân viện nghiên cứu Bệnh tim mạch và Xơ vữa mạch máu thuộc Inserm, cảnh báo trong trường hợp này sẽ làm cho gan bị tẩm nhuận mỡ gây ra chứng gan nhiễm mỡ, có thể dẫn đến các rối loạn đặc thù về hội chứng biến dưỡng như cholesterol tốt (HDL) giảm, triglycerid tăng và nhất là các mô tế bào không còn đáp ứng chính xác với insulin nữa. Đó là hiện tượng kháng insulin. Để làm giảm nồng độ đường huyết, tụy tạng phải tăng sự sản xuất insulin cho đến khi tụy tạng không còn đáp ứng được nữa. Hậu quả là bệnh đái tháo đường phát sinh.


Thành phần chủ yếu của fructose trong thức ăn là đường saccharose, chiếm tỉ lệ 50%. Các thực phẩm công nghiệp có chứa si-rô fructose-glucose (chiết xuất từ bắp hay lúa mạch). GS. Tappy khẳng định là tác hại sẽ xảy ra nếu tiu thụ hơn 50-60g fructose mỗi ngy. Lượng tiêu thụ cao này cũng không có gì đặc biệt bởi vì nó cũng chỉ tương đương với việc uống 1 lít soda/ ngày mà thôi.


Như vậy, ta có thể khẳng định sự tiêu thụ thái quá chất đường là nguyên nhân gây ra dịch béo phì và đái tháo đường không? Rất khó xác định! Bởi vì trong giai đoạn bùng phát các bệnh này thì sự tiêu thụ đường bùng nổ. Tuy nhiên, sự tiêu thụ thịt và chất mỡ cũng đâu có kém cạnh gì. Hơn nữa, sự hoạt động thể chất của giới này rất kém. Bệnh béo phì và đái tháo đường liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau. Sự tiêu thụ đường thái quá cũng chỉ là một trong các yếu tố mà thôi.


 

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Đường lactose có sẵn trong sữa mẹ, sữa bò, sữa dê…khi vào cơ thể sẽ được men lactase cắt đôi đường lactose thành hai phân tử đơn giản hơn là glucose và galactose. Từ đó hệ tiêu hoá sẽ dễ dàng hấp thu và chuyển hoá. Glucose và galactose cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Chính vì thế mà một khi thiếu men lactase, cơ thể sẽ không dung nạp được sữa hoặc thậm chí các sản phẩm làm từ sữa.



Đừng lo lắng, hãy thêm vào thực đơn hàng ngày những món ăn làm từ các nguyên liệu sau để có thể tăng cường canxi cho cơ thể đặc biệt là đối với những người bất dung nạp lactose.


  1. Đậu phụ và sữa đậu nành

Một nửa chén đậu rất giàu protein này chứa một hàm lượng canxi lên tới 258 mg, tương đương với một cốc sữa chua. Sữa đậu nành có nhiều canxi, khoảng 400 mg/110g và dễ hấp thụ vào cơ thể hơn các loại sữa thông thường khác.


Ngoài uống sữa đậu nành có thể bổ sung canxi bằng cách ăn đậu nành tươi hoặc khô, các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ. 60g đậu phụ chứa 250mg canxi – 25% nhu cầu cơ thể cần hàng ngày


  1. Cá hồi

Nói chung, hải sản và cá đều rất giàu canxi, đặc biệt là các hồi. Một khẩu phần các hồi 90g có thể cung cấp cho cơ thể chúng ta 180 mg canxi, chưa kể tới lượng axit béo omega-3 và protein dồi dào rất tốt cho sức khỏe. Ngoài ra, cá mòi cũng là một lựa chọn tốt, khi 60g thịt cá chứa tới 185 mg canxi.


  1. Bắp cải

Loại rau xanh này được xem là một nguồn dự trữ canxi khổng lồ, chứa tới 239mg canxi trên mỗi nửa bát rau nấu chín. Ngoài ra, đây cũng là một thực phẩm rất giàu chất xơ, vitamin và cũng rất dễ chế biến, dễ ăn.


  1. Rau cải xoăn

Cải lá xoăn là nguồn cung cấp vitamin A, vitamin C và vitamin K tuyệt vời, cùng với chất xơ và nhiều chất khoáng cần thiết cho sức khỏe như folate, sắt, canxi, kali, mangan và phốt pho. 60 mg canxi trên mỗi chén rau nấu chín nghe có vẻ không nhiều, nhưng hãy đưa loại cải xanh này vào mỗi bữa ăn sáng, bữa ăn trưa, bữa ăn tối để thu được đầy đủ lượng dưỡng chất thiết yếu cho sự hoạt động của cơ thể.


  1. Đậu trắng

Chỉ cần nửa cốc của bất kỳ loại đậu trắng nào cũng sẽ cung cấp cho bạn hơn 113mg canxi (và một lượng kha khá protein ít béo tốt cho cơ thể). Hãy thử những thực đơn mới với loại thực phẩm này, như thêm vào món salad hoặc mì ống, các món canh, hầm hoặc sử dụng chúng để nấu chè tương tự đậu xanh.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

  1. Sữa cho trẻ dưới 1 tuổi:

  2. Sữa dành cho trẻ sanh non nhẹ cân: nếu trẻ có cân nặng dưới 2.500g, bạn nên sử dụng nhóm sữa này để nuôi trẻ.

– Chứa protein, vitamin và khoáng chất cao phù hợp cho trẻ sanh non.



– Năng lượng cao hơn so với sữa bình thường (0,7-0,75Kcal/ml so với 0,67Kcal/ml)


Ngoài ra , ở những nước đã phát triển còn có dạng sữa mẹ đóng hộp được bổ sung thêm vi chất.


  1. Sữa công thức dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi:

– Loại sữa này phù hợp cho trẻ sơ sinh (có cân nặng lúc sanh trên 2.500g) tới sáu tháng tuổi vì dễ tiêu hóa và có tỉ lệ canxi/photpho = 2:1, tỉ lệ này tối ưu cho thận của trẻ nhỏ và tăng cường hấp thụ canxi.


– Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng khi trẻ bú được 150ml/kg cân nặng/ngày.


  1. Sữa dành cho trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi

Trẻ sau 6 tháng tuổi cần được cho ăn giặm đa dạng với đầy đủ bốn nhóm thực phẩm gồm chất béo, tinh bột, đạm, rau và trái cây. Sự tăng cân của trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào chế độ sữa như trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ chỉ cần bú 500-800ml sữa/ngày là đủ, phụ thuộc vào cân nặng hiện tại của trẻ.


  1. Sữa dành cho trẻ trên 1 tuổi

Có thể chia ra loại trên 3 tuổi và trên 6 tuổi do tùy theo nhu cầu ưu tiên chất dinh dưỡng theo lứa tuổi như nhiều canxi hơn, nhiều chất giúp tăng cường chống nhiễm khuẩn hơn, nhưng nói chung thì tương đối không khác nhau nhiều và sự lựa chọn không cần chặt chẽ quá do trẻ còn ăn thêm nhiều thực phẩm khác nữa. Trẻ cần uống khoảng 300-500ml sữa/ngày.


III. Nhóm sữa dành cho các nhu cầu đặc biệt


  1. Nhóm không có đường lactose:

Nhóm sữa này thường dùng cho trẻ có ruột bị kích thích, đầy hơi, tiêu lỏng do nhạy cảm với đường lactose. Dựa vào nguồn đạm có trong sữa, nhóm này được phân làm hai loại: Gốc động vật và Gốc thực vật.


  1. Sữa thủy phân:

Sữa không chứa đường lactose và protein sữa bò đã bị thủy phân nên dễ tiêu hóa dùng cho trẻ bị dị ứng sữa bò: Nutramigen, Pregestimil và Alimentum. Ngoài ra, có thể dùng cho trẻ từ sơ sinh bị rối loạn tiêu hóa, ăn uống bất cứ loại gì hoặc uống sữa bị đau bụng, không dung nạp được thức ăn do tiêu chảy nặng kéo dài, bệnh lý mổ cắt ruột nhiều, suy dinh dưỡng dạng teo đét.


Nếu gia đình bạn có tiền căn dị ứng thức ăn hoặc trẻ bị dị ứng sữa bò, bạn nên chọn sữa đậu nành hoặc sữa thủy phân nếu trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Tuy nhiên cũng có một số trẻ dị ứng sữa bò có phản ứng dị ứng chéo với sữa đậu nành.


  1. Sữa dành cho trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản:

Một số sữa công thức có bổ sung thêm tinh bột gạo (ví dụ như Enfamil AR), hoặc bổ sung thêm chất gôm thiên nhiên có đặc tính làm đặc sữa giúp giảm nôn và nuôi dưỡng các vi khuẩn có ích trong ruột, làm tăng thể tích và độ dẻo của phân, ngăn ngừa táo bón và các cơn đau co thắt (ví dụ như Frisolac Comfort).


  1. Nhóm sữa không chất béo:

Sữa không chất béo chứa ít năng lượng và không chứa cholesterol thường được sử dụng cho đối tượng có nhu cầu canxi nhưng không muốn tăng cân hoặc cần kiêng chất béo như trong bệnh lý rối loạn chuyển hóa lipid, cholesterol cao, tiểu đường hoặc do kém hấp thu chất béo như bệnh lý gan mật, tiêu hóa.


Khi đã chọn xong loại sữa, bạn cần chú ý những vấn đề sau:


– Xem thời gian sử dụng trên nhãn sữa.


– Pha chế sữa đúng theo hướng dẫn được ghi trên nhãn sữa vì nếu pha sữa đặc có thể dẫn đến tình trạng rối loạn điện giải và tổn thương thận của trẻ, ngược lại nếu pha sữa lỏng sẽ làm trẻ ảnh hưởng sự tăng trưởng của trẻ và có thể gây suy dinh dưỡng.


– Phải rửa tay trước khi cầm vào bình sữa và khi cho trẻ bú.


– Cần tiệt trùng bình sữa trước khi pha chế.


– Sau khi trẻ đã bú xong nên đổ bỏ phần sữa còn thừa lại vì vi trùng trong nước bọt của trẻ sẽ sống và tăng sinh trong phần sữa đó.


Không nên:


– Ủ hoặc để tủ lạnh sữa đã được pha mà không sử dụng ngay.


– Hâm nóng sữa bằng lò vi sóng vì nhiệt độ của sữa có thể rất cao mặc dầu bình sữa khi bạn chạm vào không nóng.


– Dùng nước rau để pha sữa.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Trẻ nhỏ thường sợ uống thuốc vì thuốc đắng, hay khó chịu mùi vị của thuốc. Do vậy nhiều cha mẹ đã lừa trẻ bằng cách cho thuốc vào sữa hoặc vào các loại nước mà trẻ thích uống. Việc làm này có nên không?



Ngoài nước và các chất hữu cơ như casein, albumin, globulin, đường lactose, lipid… trong sữa còn có rất nhiều chất khoáng đa vi lượng. Với hàm lượng lipid cao, độ kiềm cao, sữa sẽ làm chậm sự hấp thu một số thuốc như kháng sinh cefuroxim. Đặc biệt lượng canxi dồi dào trong sữa có thể tương tác bất lợi với thuốc (tạo thành phức hợp khó tan không hấp thu được). Các kháng sinh fluoroquinolon (như ciprofloxacin và levofloxacin) có thể mất hiệu lực khi dùng cùng lúc với sữa. Các tetracyclin cũng tương tác với canxi khi dùng chung. Tác dụng của penicillamin và trientin có thể mất đi nếu uống cùng với sữa. Danh sách thuốc có thể tương tác với sữa còn rất nhiều.


Chưa kể, nếu cho sữa vào bình, trẻ không uống hết sữa như vậy vô hình chúng liều lượng thuốc bị giảm xuống. Việc cho trẻ uống thuốc hòa chung với sữa hoặc các loại nước quả là rất phản khoa học. Trẻ sẽ bỏ bú hoặc không chịu uống các loại nước quả mà trước đó trẻ rất yêu thích.


Pha thuốc vào sữa hoặc nước quả có nên chăng?


Đối với trẻ khó uống thuốc nên hoà thuốc viên, thuốc bột với ít nước sôi để nguội, cho thêm ít đường để dễ uống. Một hoạt chất có thể có nhiều dạng bào chế, nếu trẻ không ưa dùng loại này có thể đổi sang lại khác cho trẻ. Nên ưu tiên chọn dạng thuốc nước như xirô, thuốc giọt giúp trẻ dễ uống hơn. Có thể dùng xilanh bơm vào khóe miệng cho trẻ. Theo phản xạ trẻ sẽ nuốt. Lưu ý bỏ kim tiên chỉ dùng xi lanh. Hạn chế tối đa sự tương tác thuốc.

Sữa chua và các sản phẩm lên men khác có tác dụng hỗ trợ tích cực cho sức khỏe con người thông qua quá trình lên men đường lactose, làm tăng bifidobateria, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn có ích phát triển. Tuy nhiên nếu không biết cách sử dụng, quá trình này có thể trở thành công cốc!



Sữa chua là sản phẩm của quá trình lên men sữa động vật bởi một số loại vi khuẩn như: stretococcus lactic, lactobacillus caucasicus, streptococcus cremoris, nấm men… giúp chuyển đường đa thành đường đơn, giảm độ pH của sữa kéo theo sự đông tụ canxi trong sữa, chuyển hoá một phần casein (đạm trong sữa) thành peptone, acidamin và sản sinh ra chất tạo hương.


“Nội soi” thành phần sữa chua


Nói chung, giá trị dinh dưỡng của sữa chua không kém các loại sữa uống hàng ngày. Cứ 100g sữa chua đem đến khoảng 100kcal, 3g chất đạm, 125mg canxi, rất nhiều vitamin (đặc biệt vitamin B5, vitamin B12) và nhiều khoáng chất cần thiết khác cho cơ thể. Mặt khác, quá trình lên men mang đến cho sữa chua một số vi khuẩn tạo ra enzym proteaza, có lợi đường ruột, giúp hệ tiêu hoá làm việc tốt… Khuẩn lactic trong sữa chua còn giúp kích thích gia tăng số lợi khuẩn trong đường ruột và khử hoạt tính một số hoá chất gây hại, kích thích tiêu hoá, tạo cảm giác ngon miệng và tăng hiệu quả hấp thu dưỡng chất từ thực phẩm.


Vì vậy, có thể xem sữa chua là một vắcxin tự nhiên để ngăn ngừa và giảm bớt triệu chứng của một số bệnh dạ dày, đường ruột phổ biến như: khó tiêu, ợ chua, viêm loét dạ dày,… Với một số người sợ uống sữa (do cơ thể thiếu men lactose nên không chuyển hoá được đường lactose trong sữa, dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá) thì sữa chua ăn có thể giúp họ ngon miệng vì hầu như không gây khó chịu cho hệ tiêu hoá.


Bên cạnh công dụng tốt cho tiêu hoá, tăng cường sức đề kháng, sữa chua ăn còn được xem là lựa chọn lý tưởng cho những ai quan tâm đến giữ dáng, giảm cân. Với hàm lượng carbohydrate, protein ở mức vừa phải, lại được phân giải thích hợp, sữa chua vừa có tác dụng giảm đói vừa giúp duy trì lượng đường huyết ổn định. Ngoài ra, axit lactic trong sữa chua còn hỗ trợ ngăn ngừa sự xâm nhập và kiềm chế hoạt động của các loại vi khuẩn có hại cho da. Đây được xem như chiếc “mặt nạ tự nhiên” giúp da mịn màng, tươi trẻ.


Với những công dụng nói trên, sữa chua rõ ràng rất tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên có tận dụng hết được những lợi điểm dinh dưỡng đó hay không còn tuỳ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng của mỗi người.


Không nên ăn sữa chua lúc đói: độ pH thích hợp để men lactic trong sữa chua sinh trưởng và phát triển tốt là từ 4 – 5 trở lên. Khi đói, dịch vị trong dạ dày có độ pH từ 2 trở xuống sẽ làm men lactic trong sữa chua dễ bị huỷ hoại. Tốt nhất chỉ nên sử dụng sữa chua trong vòng 1 – 2 giờ sau bữa ăn.


Không đợi đun nóng lên rồi mới ăn: vì như vậy cũng làm mất đi tác dụng hữu ích và hương vị ngon lành của sữa chua.


Không ăn sữa chua và uống thuốc cùng lúc: các vi khuẩn lactic có trong sữa chua sẽ bị tiêu diệt nếu làm như vậy. Tốt nhất sau khi uống thuốc từ 2 – 3 giờ mới nên ăn sữa chua.


Ngoài ra, cũng phải đặc biệt lưu ý đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm khi chọn mua sữa chua, cũng như quá trình bảo quản khi trữ trong nhà.

Nếu bạn đang bị đau hoặc cảm giác muốn nôn, tiêu chảy và các triệu chứng khác liên quan đến dạ dày, hãy tránh những thực phẩm dưới đây.


Đường tinh luyện


Các loại thực phẩm có chất đường khi ăn vào sẽ khiến mức insulin trong cơ thể tăng dẫn đến lượng đường huyết thất thường. Theo giáo sư Robynne Chutkan tại Trường đại học Georgetown (Mỹ), mặc dù đường tinh luyện không ảnh hưởng trực tiếp đến dạ dày nhưng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài với những người có dạ dày yếu.


Sữa


Nếu ăn các sản phẩm làm từ sữa có thể khiến tình trạng sức khỏe của dạ dày kém hơn bởi hầu hết các loại thực phẩm này đều chứa đường lactose. Khi bị bệnh, niêm mạc thành ruột có thể dễ bị tổn thương, khiến men tiêu hóa đường lactose bị mất đi và hậu quả là đường lactose không tiêu hoá được tích luỹ trong lòng ruột, làm tình hình càng tồi tệ hơn.


Chocolate và chất caffeine


Chất caffeine và chocolate có thể kích thích và làm co thắt dạ dày của bạn. Chất caffeine không tốt với bệnh nhân đang bị tiêu chảy. Chocolate chứa sữa hoặc các loại hạt có thể gây khó khăn cho đường tiêu hóa của những người không hấp thu được đường lactose hoặc đang bị dị ứng.


Thực phẩm béo


Những người đang bị đau bụng không nên ăn kem, thịt, phó mát mềm vì chúng là những thực phẩm giàu chất béo. Lượng chất béo nhiều sẽ khiến tình trạng viêm dạ dày tăng lên.


Thực phẩm giàu axit


Các loại trái cây giống quýt, các sản phẩm được làm từ cà chua – loại thực phẩm chứa nhiều axit có thể gây trào ngược axit. Nếu muốn dùng trái cây, nên thay bằng nước ép táo, tuyệt đối không chọn nước ép cam.


Gia vị


Nếu bạn không quen với thực phẩm gia vị và các loại gia vị, và đang mắc bệnh về dạ dày thì hãy nên tránh xa chúng. Ngoài ra, các loại gia vị nếu được chế biến trong món ăn có dầu cũng không phải là sự lựa chọn khôn ngoan.


Chất cồn



Chất cồn có thể làm tăng axit trong dạ dày bởi nó chứa các loại hóa chất khó chuyển hóa, đặc biệt là những người có vấn đề về gan.


Các loại thực phẩm đóng hộp thường chứa nhiều hóa chất để bảo quản sẽ gây khó chịu dạ dày của bạn. Các loại thực phẩm đã qua chế biến chứa nhiều chất bảo quản.

Trong sữa có 5 thành phần quan trọng là đạm, béo, đường lactose, vi khoáng chất và nước. Và tỉ lệ các chất này sẽ quyết định chất lượng cũng như màu sắc, độ đặc của sữa.



Đạm whey và casein


Sữa là một nguồn protein tuyệt vời bởi các protein trong sữa có cấu trúc phân tử lớn, không hòa tan trong nước. Có hai loại protein trong sữa là casein và whey.


Các protein casein trong sữa kết hợp với một số khoáng chất trong sữa và hình thành các mixen (chứa khoảng 65% nước, còn lại là các casein và khoáng gồm can-xi, ma-giê, phốt-phát…). Ánh sáng phản xạ từ các mixen làm cho sữa có màu trắng.


Protein casein sẽ đông lại, tách khỏi nước khi có axit. Casein trong sữa “túm tụm” lại với nhau và hoạt động như những bọt biển nhỏ để giữ nước. Chúng có thể chứa và giữ tới 70% nước cho mỗi mảnh cợn sữa. Axit, muối hay nhiệt độ cao có thể khiến các casein đông này bị mất nước. Đạm whey cũng bị đông lại dưới sức nóng, chứ không phải là axit và muối. Đây chính là bí quyết cơ bản để tạo ra sữa chua và phô-mai.


Chất béo


Sữa cũng là một nguồn chất béo dồi dào. Chất béo nổi trên sữa nước. Có nhiều loại chất béo khác nhau trong sữa.


Các chất béo trong sữa thường có cholesterol thấp. Trong bơ, hàm lượng chất béo cao hơn và thường giá của nó cũng cao hơn sản phẩm sữa.


Ở sữa tươi, những hạt chất béo sẽ gắn kết với nhau, lớn đến mức nổi lên bề mặt sữa, tạo ra 2 lớp khác nhau. Để ngăn chặn điều này xảy ra, hầu hết sữa đóng hộp đều phải được xử lý chia nhỏ các phân tử chất béo để tạo sự đồng nhất.


Đường lactose


Sữa cũng chứa một số carbon hydrate dưới dạng đường tự nhiên. Đường trong sữa được gọi là lactose và chỉ tìm thấy trong trong sữa. Lactose tạo vị hơi ngọt cho sữa. Lactose chỉ có thể được tiêu hóa bởi 1 enzyme đặc biệt do cơ thể sản xuất.


Một số người không thể uống sữa tươi vì họ không thể tiêu hóa lactose trong sữa dẫn tới hiện tượng uống sữa bị đau bụng. Cơ thể họ thiếu enzym lactase trong hệ tiêu hóa.


Không có lactase, lactose không thể phân chia thành glucose và galactose để có thể hấp thụ và đốt cháy thành năng lượng. Khi lactose lên men trong hệ tiêu hóa, nó sẽ sinh ra khí và 1 số axit (những người bất dung nạp lactose sẽ không thể chuyển hóa năng lượng từ lactose). Lactose sẽ bị caramen hóa khi sữa được làm nóng và sẽ biến sữa thành màu xỉn.


Vitamin và khoáng chất


Sữa là một nguồn tuyệt vời của rất nhiều vitamin và khoáng chất. Can-xi và ma-giê giúp các mixen trong sữa ổn định. Can-xi giúp tăng cường sức khỏe cho xương và răng.


Sữa cũng rất giàu riboflavin, một vitamin có thể bị phá hủy bởi ánh sáng, vì vậy cần bảo quản sữa trong những hộp ngăn ánh sáng.


 

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Khi con trẻ gặp các triệu chứng như nôn trớ, quấy khóc, nhiều bà mẹ đưa bé đến khám tại bệnh viên nhi khoa, thường được bác sĩ cho về mà không cần nhập viện hoặc làm các xét nghiệm chuyên sâu cũng như dùng thuốc điều trị. Giải thích điều này, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Viện phó Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng đó không phải là bệnh lý, chỉ là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa nhẹ.


Ở nhiều trẻ nhũ nhi, hệ tiêu hóa còn non nớt, chưa hoàn thiện, dễ thiếu men lactase và một số men cần thiết khác giúp tiêu hóa đường lactose (một loại đường sữa) và đạm có trong sữa. Sự kém dung nạp lactose và khó tiêu hóa đạm sẽ tạo khí dư trong ruột, dẫn đến trướng bụng, đầy hơi, gây cho trẻ cảm giác khó chịu nên quấy khóc. Như vậy, biểu hiện khó chịu, quấy khóc liên tục của trẻ thực ra là do trẻ gặp vấn đề về rối loạn tiêu hóa. Đây vốn là hiện tượng rất thường gặp ở trẻ nhỏ.


Phương pháp giúp trẻ giảm quấy khóc, nôn trớ


Tại các bệnh viện nhi, nhiều mẹ đưa con đến khám trong tình trạng lo lắng, mất ăn mất ngủ. Do không biết con mình gặp vấn đề về tiêu hóa nên đa số các mẹ khi thấy con trướng bụng, uống sữa bị tiêu chảy, hay khó chịu, quấy khóc, tiêu chảy đều tất bật mua thuốc, đưa con đi các bệnh viện hoặc phòng khám nhi.


Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm chia sẻ: “Nhiều bà mẹ đưa con đến khám mà mẹ khóc, con khóc, rồi mẹ lo lắng đến mất ăn mất ngủ, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cả mẹ lẫn con. Mặc dù không được lơ là, xem thường nhưng các bà mẹ cũng không nên quá lo lắng khi thấy trẻ có những triệu chứng này để tránh căng thẳng không đáng có”.


Theo Tiến sĩ Lâm, việc chăm sóc đúng cách sẽ rất hiệu quả trong việc giảm bớt những triệu chứng khi trẻ gặp vấn đề rối loạn tiêu hóa. Cho con bú đúng tư thế, xem lại khẩu phần ăn của mẹ để tránh trường hợp bé bị dị ứng thực phẩm hoặc sử dụng sữa công thức đặc chế cho trẻ là những giải pháp đơn giản để chấm dứt tình trạng này.


Nếu trẻ bú sữa ngoài thì nên chọn một loại sữa công thức đặc biệt cho trẻ gặp vấn đề tiêu hóa nhẹ với thành phần bao gồm:


Đường lactose giảm còn 20%. Lượng đường lactose vừa đủ này phù hợp với hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện của bé, giúp duy trì sản sinh men lactase cần thiết cho sự phát triển bình thường, tăng hấp thu canxi và tạo năng lượng cho bé.


Đạm thủy phân một phần dễ tiêu hóa.


Ngoài ra, sản phẩm nên chứa hàm lượng đúng DHA (17mg/100kcal) và ARA (34mg/100kcal) theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), giúp hỗ trợ phát triển trí não và tăng cường hệ miễn dịch.


Theo nghiên cứu lâm sàng, các mẹ hoàn toàn có thể giúp bé chấm dứt hiện tượng nôn trớ, trướng bụng, quấy khóc, tiêu chảy cũng là giúp mình khỏi “stress oan” một cách dễ dàng và hiệu quả ngay chỉ trong vòng 24h. Nuôi con khoa học lúc này không chỉ mang lại sức khỏe và trí tuệ cho bé mà còn là sự an tâm, thoải mái cho cả hai đấng sinh thành.

Thế mà theo số liệu thống kê của dự án “Đánh giá sự dung nạp sữa công thức ở trẻ và các vấn đề khi cho trẻ ăn” do công ty A.C. Nielsen thực hiện vào năm 2009, có đến 66% các bà mẹ trên thế giới và 91% các bà mẹ tại Việt Nam cho biết con họ thường xuyên bị nôn trớ, ợ hơi, quấy khóc, táo bón, đi phân lỏng và còn nhiều vấn đề khác…


Chăm sóc đúng cách cho trẻ bị rối loạn tiêu hóa


Không dung nạp đường lactose ở trẻ: một trong những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa


Rối loạn tiêu hóa ở trẻ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, như hệ tiêu hóa của trẻ phát triển chưa hoàn chỉnh, hoặc liên quan đến công thức dinh dưỡng như thành phần đạm và chất béo của sữa không phù hợp với trẻ…


Theo một nghiên cứu gần đây của hãng Abbott, những triệu chứng rối loạn tiêu hóa trên cũng bắt nguồn từ việc cơ thể trẻ không dung nạp đường lactose trong sữa công thức ở một số trẻ. Mặc dù những triệu chứng này có thể do hoặc không do trẻ bú sữa công thức, vốn là nguyên nhân thường xuyên bị quy kết, điều đó có thể gây khó chịu cho cả trẻ lẫn cha mẹ.


BS. Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng phân môn Tiêu hoá Nhi – Trường đại học Y Dược TP.HCM, cho biết: “Trong một số trường hợp, cơ thể trẻ không dung nạp đường lactose trong sữa công thức sẽ gặp các triệu chứng này. Khi đó, cơ thể trẻ sẽ không có khả năng sản sinh đủ lượng lactase (enzyme tiêu hóa đường lactose). Lactose là loại đường có sẵn trong sữa bò và các sản phẩm sữa khác. Chính vì thế, lượng đường lactose không được tiêu hóa này vẫn nằm trong ruột của trẻ, gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa, uống sữa bị đau bụng, tình trạng này chỉ gây khó chịu chứ không nguy hiểm cho trẻ.”


Giải pháp giúp trẻ loại bỏ các triệu chứng rối loạn tiêu hóa khó chịu.


Theo con số thống kê tại Viện dinh dưỡng, ngày càng nhiều trẻ em từ 1 – 3 tuổi bị rối loạn tiêu hóa được khám và điều trị tại bệnh viện. Rất nhiều trẻ gặp tình trạng này kéo dài, không điều trị kịp thời nên dẫn đến giảm khả năng miễn dịch và suy dinh dưỡng. Chính vì thế, các bậc phụ huynh cần bình tĩnh để lựa chọn loại sữa và chế độ dinh dưỡng phù hợp để trị dứt tình trạng rối loạn tiêu hóa của trẻ, tránh mắc phải những sai lầm đáng tiếc.


BS. Tuấn nói thêm: “Nếu trẻ được cho ăn sữa công thức và gặp phải tình trạng rối loạn tiêu hóa, phụ huynh cần đưa trẻ đi khám để các chuyên gia dinh dưỡng tư vấn chọn loại sữa có công thức phù hợp nhất với trẻ, có đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết, giảm nhiều đường lactose, và được điều chế phù hợp (có thể thay đổi thành phần đạm hoặc chất béo) để giải quyết các vấn đề tiêu hóa này”.


Trong giai đoạn đầu đời, trẻ rất cần năng lượng và dưỡng chất cho sự phát triển toàn diện trong tương lai, vì thế những “thiên thần” bé nhỏ của bạn rất cần một hệ tiêu hóa khỏe mạnh để hấp thu tốt những dưỡng chất đưa vào cơ thể.

Trẻ bú bằng sữa mẹ đem lại rất nhiều lợi ích cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên, hầu hết các bà mẹ thường lo lắng vì không có đủ lượng sữa cần thiết cho bé. Một vài lời khuyên sau đây phần nào giúp các mẹ giảm bớt được những lo lắng này.


Vai trò của sữa mẹ


Trước hết sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ mà không có bất cứ loại sữa bột nào có thể so sánh được. Trong sữa mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như: đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng với tỉ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển cơ thể trẻ. Bú mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng. Trong sữa mẹ có những yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thế được đó là: các globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường ruột và bệnh nhiễm khuẩn.


Các loại sữa mẹ


Sữa non : là dòng sữa đầu tiên, rất giàu năng lượng, phù hợp với nhu cầu của trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sơ sinh non tháng. Sữa non giàu đường lactose – Lactose là một dạng đường có trong sữa bò và những sản phẩm từ sữa (kể cả sữa mẹ) và ít protein (đạm) hơn sữa bò, giàu các chất diệt khuẩn giúp trẻ tránh các bệnh nhiễm trùng, giàu vitamin A gấp 10 lần so với sữa vĩnh viễn. Nếu vì lý do gì trẻ không bú được sữa non thì có thể vắt ra cho trẻ uống. Nếu không dung nạp được đường lactose, bé thường bị tiêu chảy, đau bụng, “xì hơi”, khoảng 30 phút đến 2 giờ đồng hồ sau khi bé “ti mẹ” (hoặc dùng sữa công thức, thậm chí là tiêu thụ những sản phẩm có chưa lactose từ sữa như sữa chua, phômai – với nhóm bé đã đến tuổi ăn dặm).


Sữa chuyển tiếp : có từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14 sau khi người phụ nữ sinh con.


Sữa vĩnh viễn : từ ngày 10 – 14 sau sinh, sữa mẹ sẽ tăng nhiều về số lượng và thay đổi cả về hình thức lẫn thành phần. Sữa mẹ trở nên loãng hơn và đó là sữa mẹ hoàn chỉnh với các thành phần dinh dưỡng ổn định. Các nhà chuyên môn nhận thấy, chế độ dinh dưỡng của người mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa mẹ.


Các nguyên nhân làm giảm sự tiết sữa


Cho con bú chậm sau sinh từ 2 -3 ngày. Mẹ có các bệnh lý như: suy tim, thiếu máu, suy dinh dưỡng…


Mẹ còn quá trẻ: dưới 18 tuổi, tuyến vú chưa phát triển.


Mẹ không tăng cân đầy đủ khi mang thai.


Mẹ dùng các thuốc ức chế sự tiết sữa: aspirin, kháng sinh, chống dị ứng.


Làm gì để mẹ có nhiều sữa


Cho trẻ bú đều : tốt nhất, ngay sau khi sinh trong vòng nửa giờ đầu người mẹ nên cho trẻ bú. Vì sữa mẹ tiết ra theo phản xạ, bú sớm có tác dụng kích thích bài tiết sữa sớm… Trong những ngày đầu sữa còn ít, cần cho trẻ bú nhiều lần, sữa sẽ “về” nhiều hơn. Nếu đã ít sữa mà lại cho trẻ bú ít hoặc ăn bổ sung sữa ngoài, trẻ sẽ bỏ bú và sữa cạn dần, dẫn đến mất sữa. Trẻ được bú sữa non sẽ phòng bệnh được tốt. Động tác bú có tác dụng co hồi tử cung và cầm máu cho người mẹ sau sinh.


Dinh dưỡng đầy đủ: để góp phần đảm bảo có đủ sữa cả về số lượng lẫn chất lượng, người mẹ cần ăn uống đầy đủ. Khẩu phần ăn cần tăng thêm khoảng 350 Kcal/ngày, tương đương khoảng 1/4 lượng thức ăn so với ngày thường. Bữa ăn của mẹ cần đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhóm chất bột (cơm, khoai củ, bánh mì, bún, bánh phở…); Nhóm chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, đậu đỗ…); Nhóm chất béo (dầu mỡ, bơ, lạc…); Nhóm viatmin và khoáng chất (rau xanh, quả chín). Mỗi bữa bà mẹ nên ăn thêm một bát cơm hoặc một củ khoai cùng ít thịt hoặc cá, trứng, đậu đỗ, rau củ và quả chín…



Uống đủ nước : người mẹ cần cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho cơ thể, có thể là uống sữa hay nước ép trái cây đều rất tốt trong thời gian cho bé bú, uống đủ nước giúp cơ thể mẹ tiết ra nhiều sữa cho bé hơn.


Nghỉ ngơi đầy đủ : các bà mẹ đang trong thời kỳ cho con bú rất cần được nghỉ ngơi đầy đủ và thường xuyên đi dạo để hít thở không khí trong lành. Để đảm bảo sức khỏe và đủ sữa cho con bú, bạn cần ngủ ít nhất 10 tiếng mỗi ngày, 2 – 4 tiếng ban ngày và 6-8 tiếng ban đêm. Stress ảnh hưởng lớn đến việc tiết sữa của cơ thể người mẹ, vì thế nghỉ ngơi và thư giãn là cách giúp tăng cường lượng sữa. Ngoài ra, người mẹ cần ăn kiêng những chất ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng sữa như: rượu, cà phê, thuốc lá… Không nên uống các loại thuốc tân dược khi không có chỉ định của bác sĩ.

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Hỏi: Gia đình chúng tôi mới đón thêm một thành viên mới, nhưng cháu chào đời khi được 36 tuần tuổi, vì thế nên tôi rất lo lắng và muốn nhờ Bác Sĩ tư vấn giúp tôi có nên bổ sung thêm dinh dưỡng gì đặc biệt cho trẻ sinh non không thế.



Trả lời:


Xin chào bạn!.


Trước tiên, chúng tôi xin chúc mừng gia đình bạn đã có thêm một thành viên mới. Về câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời bạn như sau:


Trẻ sinh non chịu thiệt thòi hơn so với trẻ sinh đủ tháng là bởi vì trẻ sẽ không có cơ hội được hưởng những chất dinh dưỡng trong ba tháng cuối của thai kỳ (giai đoạn giúp trẻ tăng trưởng cân nặng nhanh nhất) nên sẽ gặp khó khăn trong việc ăn uống. Vì thế, nên trẻ sinh non cũng cần có một chế độ dinh dưỡng đặc biệt hơn so với những trẻ sinh thường. Chế độ dinh dưỡng dành cho trẻ sinh non kém sẽ dẫn tới sự tăng cân và phát triển chậm. Đây là những yếu tố cũng như nguyên nhân dẫn đến tăng tỉ lệ chết ở trẻ sơ sinh. Trẻ sinh non có thể phát triển chậm so với trẻ khác đến ba năm và cũng thường có vấn đề trong việc học và ứng xử khi trẻ đến trường


Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, sữa mẹ là dinh dưỡng hoàn hảo và tốt nhất dành cho cả trẻ sinh đủ tháng và trẻ sinh non bởi thành phần dưỡng chất rất dễ tiêu hóa, chứa nhiều yếu tố miễn dịch giúp trẻ chống chọi với các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, hàm lượng các chất thiết yếu như đạm, chất béo, các vitamin và muối khoáng trong sữa mẹ không đủ để đáp ứng nhu cầu cho tốc độ phát triển “bắt kịp” của trẻ sinh non.


Vì thế, bạn cũng có thể nghĩ tới chuyện cho trẻ dùng thêm sữa ngoài, nhưng phải là sữa dành riêng cho trẻ non tháng. Do trẻ sinh non có nguy cơ bị viêm ruột cao, thành ruột dễ tổn thương nếu thành phần dưỡng chất có áp lực thẩm thấu cao nên việc giảm hàm lượng đường lactose là cần thiết và thay vào đó là thành phần đường maltodextrin giúp giảm áp lực thẩm thấu lên thành ruột. Do cơ thể trẻ sinh non nghèo dự trữ chất béo DHA và ARA trong khi nhu cầu về hai chất này lại cao cho phát triển thị giác và trí não, việc bổ sung DHA và ARA trong sữa công thức cho trẻ sinh non là rất quan trọng. Ngoài ra, sự có mặt của các vitamin và khoáng chất, ví dụ như sắt là rất cần thiết cho trẻ.


Khi lựa chọn sữa cho bé mẹ nên cẩn trọng: Đọc kỹ nhãn mác hàng hóa: Với cách này, bạn sẽ tránh được việc cho bé dùng những sản phẩm sữa có chứa nhiều đường lactose. Những sản phẩm có chứa sữa là bánh quy, ngũ cốc, bánh mỳ sữa, bơ…


Chúc bé yêu nhà bạn luôn khỏe mạnh và chóng nhớn nhé!.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Dù các bà mẹ ai cũng thuộc nằm lòng câu nói trước mỗi mẩu quảng cáo sữa bột “ Sữa mẹ là tốt nhất cho sự phát triển củ rẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” nhưng không phải ai cũng làm theo tinh thần của câu tuyên truyền đó.


Các bà mẹ ai cũng muốn con mình cao lớn và thông minh như những đứa bé trong các shot quảng cáo sữa nên đã lầm tưởngrằng việc cho trẻ dùng sữa bột thay cho sữa mẹ là một biện pháp vừa tiện lợi vừa thông minh. Hãy cùng phân tích để xem trong cuộc chiến Sữa mẹ – Sữa Bột, ai mới thật sự tỏa sáng ??


1. Lợi ích khi nuôi con bằng Sữa Mẹ



Đây là dòng sữa tự nhiên nên trẻ rất dễ hấp thu và tiêu hóa trong 6 tháng đầu đời. Các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ sẽ là lá chắn vững chắc giúp trẻ chống lại các căn bệnh nhiễm khuẩn. Khoa học đã chứng minh hàm lượng lactose, protein, vitamin … có trong sữa mẹ hoàn toàn phù hợp và đầy đủ cho sự phát triển thể chất lẫn trí não của trẻ mà không cần thêm bất kỳ sự trợ giúp, bổ sung nào khác.


Nếu bạn không có đủ sữa để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của bé, bạn có thể kết hợp cho bé uống sữa công thức.Lưu ý khi cho trẻ uống sữa công thức: Một số trẻ khi uống sữa bị tiêu chảy, đầy hơi, sôi bụng… đó là hiện tượng bất dung nạp lactose hoặc dị ứng sữa vơi các triệu chứng thường là đau bụng dữ dội, nôn mửa và bệnh chàm quanh miệng hoặc nơi quấn tã.


Việc nuôi con bằng sữa mẹ ngoài việc giảm bớt gánh nặng kinh tế, phát triển tình mẫu tử còn giúp mẹ tránh được nhiều nguy cơ trong thời kỳ hậu sản như : giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ, giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng, giúp mẹ chậm có thai … Nhờ đó, tỉ lệ mắc các vấn đề về vú, hậu sản và thất bại trong kế hoạch hóa gia đình sẽ giảm đi trong xã hội.


Như vậy, cả 3 đối tượng : Mẹ – Bé và Xã Hội đều có được lợi ích cho mình khi bé được nuôi lớn bằng Sữa Mẹ.


Sữa mẹ và sữa bột


Sữa mẹ là cầu nối thắt chặt tình mẫu tử


2. Những nguy cơ khi nuôi con bằng Sữa Bột


Trẻ dễ bị tiêu chảy do không hấp thu được lactose trong sữa bột. Nếu hấp thu không đầy đủ, việc trẻ suy dinh dưỡng, thường hay mắc các bệnh mãn tính là điều khó tránh khỏi. Việc thiếu đi các kháng thể tự nhiên có trong sữa mẹ sẽ khiến hệ miễn dịch cuả trẻ sẽ phát triển yếu ớt, dễ nhiễm khuẩn.


Hiện nay, các hãng sữa luôn cải tiến sao cho thành phần dinh dưỡng của Sữa Bột cao hơn cả Sữa Mẹ để tạo nên sự ưu việt, tuy nhiên việc cung cấp quá mức này trẻ cũng không thể hấp thu hết và thậm chí có thể làm thay đổi sự cân bằng của đường ruột trẻ.


Mẹ nuôi con bằng Sữa Bột sẽ dễ gặp các bệnh về vú, hậu sản và sớm có thai trở lại ở mức cao hơn các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ. Tình mẫu tử được kết nối qua bầu sữa mẹ sẽ là điều mà bạn không hề được trải nghiệm để biết nó thiêng liêng và quý báu đến thế nào !


Sữa mẹ và sữa bột


Không có bất kỳ loại sữa nhân tạo nào thay thế đươc sữa mẹ


Kết luận : Bài viết chỉ mong đã tạo thêm một cú hích nữa đến với các bà mẹ để các mẹ tự tin và quyết tâm hơn trong việc lựa chọn nuôi con bằng Sữa Mẹ. Cuộc chiến cam go Sữa Mẹ vs Sữa Bột này sẽ do chính các bà mẹ làm trọng tài để tìm ra người chiến thắng tốt nhất cho con mình.